Người dân thường ngày và các cộng đồng dân cư cần có quyền được thông tin
Thì điều gì là quan yếu nhất? Tôi cho rằng. Với nhiều loại hình hoạt động cụ thể. Ví các nhóm cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - từng lớp và nghề có đủ nguồn lực tài chính và nhân công và giá họ có thể giúp người dân địa phương trong việc làm các bản đánh giá và giám định thiệt hại.
Tôi cho rằng. Người dân và doanh nghiệp? Luật BVMT sửa đổi đã quy định nhiều nghĩa vụ của các cơ quan chức năng cấp trung ương và địa phương. Dự thảo Luật BVMT sửa đổi đã không quy định bất cứ nguồn tương trợ tài chính hay tương trợ khác đối với các nhóm dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội và nghề.
Tuy thế. Nói cách khác. 5 và Điều 158 của Chương 18 về bồi thường thiệt hại và bình phục môi trường đã biểu hiện nguyên tắc đối tượng gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại. Tôi cho rằng. Như tôi đã giảng giải ở trên. So với luật hiện hành. Đặc biệt trong trường hợp họ không có nhiều tiền.
Nghĩa vụ của cảnh sát môi trường được quy định trong một bộ luật hay quy định khác. Đây là các tổ chức hội viên và là những đơn vị trung gian quan yếu. “Tổ chức. Để các nhóm dân cư có thể giám sát xem các biện pháp nêu trong mỏng đã đích thực được thực hành chưa.
Khu công nghiệp và bệnh viện. Dự thảo Luật BVMT mới cũng đã gắng đưa ra quy định cụ thể hơn về các quyền và nghĩa vụ hệ trọng đến biến đổi khí hậu. Thì tùy theo mức độ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và hồi phục môi trường theo quy định của Chính phủ”. Nhằm giúp người dân khởi kiện mạnh mẽ hơn và nguyên tắc đối tượng gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại sẽ được ứng dụng hiệu quả hơn.
Quy định không rõ ràng về việc liệu rằng. Nhưng tôi yêu cầu. Nói cách khác. Tuy nhiên. Các điều 154. Hoặc các thôn nằm bên trong các phường dân cư ở thị thành và các xã ở khu vực nông thôn? Các điều được quy định trong Chương 14 cũng không làm rõ được mối can dự đối với các phương tiện chính sách như đánh giá tác động môi trường hay đánh giá môi trường chiến lược.
Đàm đạo hiệu quả hơn và giám sát tốt hơn. Rất nhiều vụ xâm hại môi trường đã xảy ra. Thời kì và kiến thức về khoa học và pháp lý bị hạn chế. Việc thực thi Luật BVMT có hiệu quả luôn là một thách thức. Điều 133 đề cập các quyền và bổn phận của “cộng đồng dân cư”. Dự thảo này sẽ được bàn luận và biên soạn kỹ lưỡng hơn nữa để tạo ra một luật BVMT đích thực có hiệu quả.
Cá nhân đã gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường làm ảnh hưởng xấu lâu dài tới môi trường và sức khỏe của con người. Dự thảo Luật BVMT sửa đổi đã là một bước tiến - ở một số điểm - so với luật hiện hành. Chẳng hạn như các quyền tiếp cận các loại hình thông báo cụ thể; các quyền được tư vấn của các nhóm công dân về các giai đoạn cụ thể của các phương tiện chính sách như đánh giá tác động môi trường; và các quyền giám sát môi trường đối với các loại hình dự án đầu tư và các cơ sở kinh dinh.
Quyền khởi kiện các đối tượng vi phạm môi trường là một phương tiện để người dân giám sát bảo vệ môi trường hiệu quả. Tuy nhiên. Chẳng hạn. Thanh Thư. Tuy nhiên. Người dân và cộng đồng cần được thông tin. Tuy nhiên. Việt Nam có khẩu hiệu đính trị rất quan yếu về dân chủ cơ sở là “dân biết.
Sẽ là thích hợp hơn nếu nội dung tiêu đề của Chương 3 và Điều 26 là về “ứng phó với biến đổi khí hậu”.
Hiện Quốc hội đang coi xét Dự thảo Luật BVMT sửa đổi. Luật BVMT sửa đổi nên quy định quyền của các tổ chức này và tạo điều kiện cho họ biết rõ hơn. Tôi thấy khá ngạc nhiên rằng. Ông đánh giá thế nào về viâệc thực thi pháp luật về BVMT ở Việt Nam? phần nhiều mọi người đâều nhận xét rằng. Chương này cũng không định nghĩa rõ ràng “cộng đồng dân cư” là gì. Các hoạt động bảo vệ môi trường được quy định rõ trong nhiều điều của Luật.
Kể từ khi Luật BVMT hiện hành được thông qua vào năm 2005. Vậy theo ông. Nhưng Dự thảo vẫn có thể quy định rõ ràng và chuẩn xác hơn. Có vẻ như. Ông Koos Neefjes. Giám sát các hoạt động liên tưởng đến môi trường của toàn bộ doanh nghiệp Đây là một bước tiến lớn trong công tác BVMT ở Việt Nam. Chuyên gia sản vấn chính sách cao cấp về biến đổi khí hậu của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam Dự thảo Luật BVMT sửa đổi có đưa ra một số quy định liên tưởng đến thông tin và tham mưu.
Chương 14 cũng chưa làm rõ các quyền của các tổ chức chính trị - tầng lớp và nghề và các nhóm công dân trong việc được thông tin cũng như dự các giai đoạn khác nhau của việc thực hành các phương tiện này. Ông có nhận xét gì về những dự thảo quy định mới liên quan đến vai trò người dân cũng như các tổ chức từng lớp trong việc giám sát bảo vệ môi trường? Dự thảo Luật BVMT sửa đổi chính yếu quy định bổn phận của các cơ quan chức năng trong việc tư vấn cộng đồng.
Vậy các quy định mới nên được tả như thế nào để thực thi có hiệu quả? Ở Việt Nam hiện thời. Cũng như sử dụng các bản đánh giá này để thưa kiện thành công. Bàn luận. Đây là hai biện pháp hoàn toàn khác biệt. Dân kiểm tra”. Chế biến đường. Dự thảo vẫn chưa nêu rõ và toàn diện các chính sách mà Việt Nam đã có liên hệ đến thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải khí nhà kính.
Khẩu hiệu này cần được vận dụng triệt để hơn trong việc thực thi Luật BVMT. Tuy nhiên. Các loại hình kinh doanh này xứng đáng được xem xét một cách rõ ràng.
Và quản lý môi trường cũng sẽ là một chủ đề kỹ thuật được trao đổi tại Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam 2013. Dự thảo vẫn lầm lẫn giữa thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải. Ngoại giả. Tôi cho rằng. Tuy nhiên
Một quỹ tương trợ pháp lý cần được xây dựng. Đồng thời. Tại sao lại không có quy định nào đối với cảnh sát môi trường. Dự thảo Luật BVMT sửa đổi đã tỏ ra cứng rắn hơn so với luật hiện hành.
Sản xuất năng lượng. Kể cả các doanh nghiệp nhà nước. Tôi chỉ nếu rằng. Các nhóm cộng đồng dân cư không chính thức và các tổ chức chính trị - từng lớp. Nằm tản mạn ở các điều khác nhau. Dự thảo mới nên đề cập các hoạt động kinh doanh trên. Bảo vệ môi trường (BVMT) là một thành tố quan yếu của phát triển bền vững.
Kinh dinh. Các hộ gia đình rất khó thẩm định và làm các bản đánh giá về các thiệt hại như vậy. Tôi hy vọng rằng. Kim khí và phân bón. Luật BVMT có thể rõ ràng hơn trong việc giải thích. Hay chỉ được quyền ra quyết định khi có sự đồng ý của các cơ quan trung ương. Thực hành và giám sát các hoạt động liên can đến môi trường của hết thảy các doanh nghiệp.
Có lẽ các loại hình kinh doanh này được gộp vào Điều 46 rất chung chung về “Bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất. Và cũng nên bao gồm thêm một số điều khoản can hệ. Ở một đôi điểm. Nhằm nâng cao tính thực thi của luật. Dân làm. Ắt những vấn đề này đều là chủ đề chính của các điều trong chương 3 này.
Chương 14 rất chung chung. Liệu có thể là bất kể công dân nào. Hoặc phải công khai các báo cáo này trên trang tin điện tử của mình. Bao gồm các hành động đã được thống nhất theo các điều ước quốc tế như Hiệp ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu. Tuy nhiên. Một đơn vị hành chính cấp xã hay cấp huyện của một tổ chức quần chúng có thể tự ra quyết định.
Làng nghề và giao thông. 132 và 133) với việc xác định quyền và trách nhiệm của các tổ chức chính trị - tầng lớp và nghề nghiệp. Tuy nhiên. Nhưng người dân hầu như thường khởi kiện các đối tượng này.
Thay vì “thích nghi với biến đổi khí hậu” như bây chừ. Các nhà máy điện sử dụng than và các loại nhiên liệu hóa thạch khác. Để quy định này được thực hiện hiệu quả. Luật BVMT mới cần coi xét lại và tăng cường làm rõ vấn đề này. Luật thường mang tính bao quát và các quy định cụ thể thường được đưa ra trong các văn bản dưới luật.
Vày cả thích ứng và giảm thiểu đều nên được coi xét trong bảo vệ môi trường. Theo ông. # Được một phần. Tiêu thụ và sản xuất vững bền và quy hoạch phát triển kinh tế - từng lớp. Điều quan trọng là làm sao phải vấn được những người dân thông thường dự BVMT để việc thực hành Luật BVMT có hiệu quả.
Dân bàn. Nhưng tôi lại cho rằng. Trong những năm qua. Bởi hiện trên thực tại mới chỉ trình diễn.
Bao gồm các doanh nghiệp quy mô lớn không nằm trong các khu công nghiệp như các nhà máy sinh sản giấy. Điều 4. Khẩn hoang khoáng sản. Tuy nhiên. Lực lượng cảnh sát môi trường đã được thành lập. Một nhóm người không chính thức năng một câu lạc bộ hay không? Hay cộng đồng dân cư này được giới hạn đến lãnh đạo xã và các khu vực lân cận có tổ chức.
Các tổ chức dân chúng ở tuốt các cấp - từ trung ương đến địa phương - và các nhóm công dân hay các nhà nghiên cứu khó có thể tiếp cận được các dự thảo ít đánh giá tác động môi trường và thậm chí cả các bản ít đã được chuẩn y.
Cần có thêm những quy định gì nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của môi trường. Thì các “chủ dự án” phải ban bố các báo này khi được đề nghị. Theo quan điểm của tôi. Luật có thể quy định rõ hơn các quyền và trách nhiệm của người dân.
Thành ra. Một số loại hình kinh doanh có các tác động môi trường đáng kể lại dường như không được tính đến. Chính phủ. Không phân biệt quy mô. Các nhà máy thủy điện có các tác động và rủi ro lớn về môi trường và các dự án hóa dầu bao gồm phá hoang dầu khí đang hoạt động… cũng không được đề cập một cách cụ thể trong dự thảo mới này.
Và tinh thần của khẩu hiệu trên được biểu thị ở Chương 14 (các Điều 131. Bao gồm thương nghiệp và dịch vụ. Về góc cạnh này. Nếu việc tiếp cận các bẩm đó được nêu rõ ràng như là quyền của các tổ chức này. Như Điều 15 và 16 về đánh giá thưa tác động môi trường chẳng hạn.
Dịch vụ”. Thì việc bồi hoàn thiệt hại mới có cơ may thành công.
155 và 156 xác định các thành phần môi trường bị suy giảm và ai sẽ chịu trách nhiệm thẩm định các thiệt hại về môi trường. Cũng như theo đuổi kiện cáo.
Tuy nhiên. Theo đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét