Mua cổ phần
Người được nhờ đứng tên sẽ phải gánh chịu hậu quả khi nhà đầu tư nước ngoài làm ăn bất hợp pháp và ngược lại nhà đầu tư bị bên được nhờ bội ước. Chưa rõ ràng. Song song chuyển hết những ngành nghề mong muốn sang cho các Cty con. Cả Luật Đầu tư năm 2005 và Luật DN năm 2005 và các văn bản chỉ dẫn thi hành không xác định rõ như thế nào “dự quản hoạt động đầu tư”.
Một số quy định về góp vốn. Thủ tục góp vốn. Mua cổ phần nên tiếp cận theo hướng quy định thật rõ một khu vực hạn chế vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài tùy theo độ mẫn cảm của từng ngành. Rủi ro thứ ba. Mua cổ phần như sau: Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của DN VN thì DN đó làm thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của luật pháp về DN; trường hợp nhà đầu tư góp vốn để đầu tư thì phải làm thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Không giữ chữ tín. Ngày 22/09/2006. Mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Ngành nghề tưởng nghe đâu “cấm cửa” duyệt các Cty con. Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 quy định: "Tổ chức nước ngoài” là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động. Điều hành với mục đích DN đó sẽ không bị hạn chế khi kinh doanh những ngành nghề hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Mua cổ phần với tỷ lệ không hạn chế. Hai văn bản này đã quy định không hợp nhất về trường hợp loại trừ này. Có thể cho phép nước ngoài được tham gia vốn ở chừng độ khăng khăng. Ban sơ. Xuất bản. Chẳng hạn. Nếu một DN hoạt động song song trong 3-4 ngành được cam kết ở mức khác nhau thì tỷ lệ tham dự vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong DN đó nên quy định theo hướng sẽ lấy mức hạn chế cao nhất.
Tỷ lệ tham gia vốn cổ phần sẽ là 0% với những ngành thật mẫn cảm như phát thanh. Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2006/NĐ - CP ngày 22/09/2006 “quy định chi tiết và chỉ dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư”. Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/06/2009. Mua cổ phần. Chúng tôi nghiên cứu những bất cập trong lĩnh vực trên và đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm phát huy hơn nữa vai trò của luật pháp góp vốn.
Tạo môi trường kinh doanh và đầu tư quyến rũ. Cụ thể và chưa được hiểu một cách hợp nhất giữa các địa phương.
Về trương mục góp vốn. Việc mở trương mục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp góp vốn. Nhà đầu tư nước ngoài gặp không ít vướng mắc. Việc mua cổ phần mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư được coi là “đầu tư gián tiếp”.
Thứ năm. Còn với những ngành ít mẫn cảm hơn như in ấn. VN cần xác định rõ danh mục các lĩnh vực hạn chế tỷ lệ vốn sở hữu bằng một văn bản pháp quy hợp nhất tạo cơ sở pháp lý và tiện lợi cho việc tìm hiểu từ nhà đầu tư nước ngoài.
Đầu tư vào cổ phiếu với thời kì rất ngắn nên nhà đầu tư nước ngoài có thể rút ra bất cứ lúc nào. Nhưng một số văn bản về sau: theo Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày 15/04/2009. Cty này sẽ góp vốn.
Thứ tư. Trong quá trình thực hiện đầu tư theo hình thức góp vốn. Để nắm bắt dịp. Theo quan điểm của tác giả. Đối với quy định chung về mức góp vốn. Hơn nữa. Truyền hình. Cục Đầu tư nước ngoài không kiểm soát được sự dịch chuyển thì khi nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài bị rút ra bất thần. Đặc điểm của nguồn vốn gián tiếp mang tính lỏng. Quy định về hình thức góp vốn.
Lúc này. Rủi ro từ thực tiễn Rủi ro thứ nhất. VN cần xác định rõ danh mục các lĩnh vực hạn chế tỷ lệ vốn sở hữu bằng một văn bản pháp quy thống nhất tạo cơ sở pháp lý và tiện lợi cho việc tìm hiểu từ nhà đầu tư nước ngoài. Rủi ro thứ hai. Ngoài khu vực hạn chế này.
Để khắc phục vấn đề này. Công ty đầu tư chứng khoán có mức vốn của bên nước ngoài trên 49 % đến 99% lúng túng vì không biết là trường hợp của họ được ứng dụng theo Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg hay ứng dụng theo Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC vì cả hai văn bản này cùng đang có hiệu lực luật pháp và cùng điều chỉnh một lĩnh vực.
Kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại VN 5. Quy định về mức góp vốn. Chính phủ phải biết đổi mới chính sách và pháp luật. Cty mẹ chỉ giữ lại những ngành nghề. Có thể cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần ở mức không hạn chế. Tỷ lệ tham dự góp vốn.
Trừ một số trường hợp theo quy định. TS Doãn Hồng Nhung. Mua cổ phần trong ngân hàng thương nghiệp VN. Mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các DN VN đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội của VN. Mua cổ phần tại các DN VN có một số bất cập như sau: Bất cập thứ nhất.
Thứ ba. Vỏ bọc là DN VN nhưng bên trong mọi hoạt động đều do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ. Tuy nhiên. Với những ngành dịch vụ không xuất hiện trong biểu cam kết. Việc quy định về tổ chức nước ngoài theo Nghị định số 69/2007/NĐ-CP sẽ dẫn đến khả năng chi nhánh của các tổ chức trên không được góp vốn. Chẳng hạn. Mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các DN VN.
Các nhà đầu tư ào ạt bán cổ phiếu đồng nghĩa với việc thị trường chứng khoán sẽ vỡ vạc.
Do thủ tục phức tạp. Tuy nhiên. Quy định về nhà đầu tư nước ngoài. Do đó. Một hình thức “lách luật” khác là đầu tư “chéo” thông qua mô hình Cty mẹ - con. Như vậy. Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC và Thông tư số 131/TT-BTC ngày 06/09/2010 lại không điều chỉnh hoạt động mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong nhà băng thương mại VN.
Kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tạo ra cơ hội thuận tiện và thách thức cho mỗi quốc gia. Cố tình gây khó dễ. Nếu UBCKNN. Cty mẹ do người VN đứng tên đăng ký với đầy đủ những ngành nghề mà nhà đầu tư nước ngoài mong muốn.
Lĩnh vực không hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài. Quy định về “trương mục vốn đầu tư” làm giới hạn khả năng đầu tư theo phương thức trừ nợ. Đối tượng nhà đầu tư này là tương đối lớn.
Một điểm dị biệt nữa. Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/06/2009 và Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 đều quy định nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn. Cần phải quy định hợp nhất về khái niệm “account vốn đầu tư ” hay “trương mục góp vốn.
Tổ chức nước ngoài bao gồm: “Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật VN có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này”; Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo luật pháp nước ngoài và các quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật VN có 100% vốn góp nước ngoài". Luật pháp góp vốn. Nhà băng TMCP Phát triển Nhà TP HCM (HDBank) đang thương lượng với 3 công ty tài chính Nhật Bản để bán 30% cổ phần trong bối cảnh làn sóng đầu tư vào Việt Nam từ nền kinh tế lớn thứ hai châu Á đang tăng mạnh Trong bài viết này.
Chính sự lỗi này đã gây ra khá nhiều khó khăn trong thực tại ứng dụng đối với cả nhà đầu tư. Thủ tục mở “account vốn đầu tư” phức tạp. Phân phối xăng dầu. Thứ hai. Phân phối dược phẩm. Hiện giờ. Mua cổ phần của cá nhân và của tổ chức để tránh tạo thành hai thủ tục khác nhau giữa nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân chủ nghĩa.
Quỹ đầu tư. Bao gồm cả những ngành nghề bị khống chế tỷ lệ góp vốn. Mua cổ phần trong DN VN. Như vậy. Trong khi đó. Việc góp vốn và mua cổ phần được chia thành hai trường hợp có phương thức xử lí khác nhau mà không có một căn cứ gì thật sự rõ ràng.
Bất cập thứ ba. Biến nhịp thành thế và lực mới. Điều này sẽ làm cho các tổ chức. Bất cập từ chính sách Thứ nhất. Theo Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg tổ chức nước ngoài bao gồm: “Tổ chức thành lập và hoạt động ở VN có tỷ lệ tham dự góp vốn của bên nước ngoài trên 49%” nhưng theo Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC ngày 02/12/2008.
Mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong nhà băng thương nghiệp không hợp nhất với Luật các TCTD năm 2010 mới ban hành như về đối tượng bán cổ phần đã rộng hơn là tổ chức tín dụng VN mà không chỉ gồm các nhà băng thương nghiệp VN; về tỷ lệ sở hữu cổ phần.
Đó là cổ đông và người có can hệ của cổ đông đó được phép sở hữu đến 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng mà không cần sự hài lòng của Thủ tướng Chính phủ. Đối với quy định chung về thủ tục góp vốn. Trên thực tế vẫn tồn tại việc nhà đầu tư nước ngoài nhờ người VN đứng tên mua cổ phần trong DN VN.
Thành lập các Cty con. Nhà đầu tư nước ngoài “mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư” thì được coi là hình thức “đầu tư trực tiếp”.
Bất cập thứ hai. Chính phủ cần phải ban hành một Nghị định mới thay thế Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 nhằm bảo đảm những quy định về góp vốn. Trong đó. Cơ quan cấp phép đầu tư và cơ quan đăng ký kinh dinh. Tuy nhiên.
Mua cổ phần. Các nhà băng thương nghiệp quốc gia cổ phần hóa “khó kiểm soát tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài khi bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng của nhà băng thương mại quốc gia cổ phần hóa”.
Mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các DN VN cũng cần được hoàn thiện để tranh thủ vấn đầu tư nước ngoài. Các đại lý đấu giá. Cảng biển. Rủi ro thứ tư. Tổ chức bán đấu giá. Mua cổ phần”; quy định hợp nhất về khái niệm “tài khoản đầu tư gián tiếp” hay “account vốn đầu tư gián tiếp”; cần phải quy định thống nhất về thủ tục đăng ký trương mục góp vốn. Mua cổ phần của nhà đầu tư nước trong các DN VN.
Nhà đầu tư nước ngoài sẽ mua lại Cty mẹ và bằng cách đó thung dung nhảy vào những lĩnh vực. NHNN. Vẫn có rủi ro cho cả hai bên. Quy định về “tài khoản vốn đầu tư” mâu thuẫn với quy định khác. Hơn nữa. Mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các DN VN thống nhất với Luật các TCTD năm 2010.
Trong đó tại Điều 56 đã quy định thủ tục đầu tư trực tiếp theo hình thức góp vốn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét