Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Hải quan và Doanh nghiệp gặp khó thêm một phương pháp với thuế GTGT thức ăn chăn nuôi.

Người dân sử dụng thức ăn chăn nuôi Theo Tổng cục Hải quan, quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 8 Luật thuế GTGT; điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP; khoản 3 Điều 10 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính thì “Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác bao gồm các loại đã qua chế biến hoặc chưa chế biến như cám, bã, khô dầu các loại, bột cá, bột xương, bột tôm và các loại thức ăn khác dùng cho gia súc, gia cầm và vật nuôi” thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT là 5%; Điều 11 Thông tư này quy định “Thuế suất 10% vận dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không được quy định tại Điều 4, Điều 9 và Điều 10 Thông tư này”

Hải quan và Doanh nghiệp gặp khó với thuế GTGT thức ăn chăn nuôi

Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam thì viện dẫn theo điểm b, khoản 2, Điều 6 Nghị định 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 quy định “Chất phòng trừ và các chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng” thuộc đối tượng vận dụng thuế suất là 5% và cho biết thêm: chuyên môn kỹ thuật trong nước và quốc tế đều xem những mặt hàng nhập khẩu này là chất kích thích tăng trọng.

Để giải quyết dứt điểm vướng mắc của doanh nghiệp, Tổng cục Hải quan đã có văn bản bàn bạc, xin ý kiến của Vụ Chính sách Thuế, Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) và Tổng cục Thuế. Đây là vướng mắc chung của cả cơ quan thương chính lẫn doanh nghiệp trong việc hiểu và thực hành các văn bản quy phi pháp luật can dự đến thuế GTGT.

Tô Thành. Cứ quy định trên, Tổng cục thương chính đã hướng dẫn các Cục thương chính địa phương thu thuế GTGT đối với phụ gia, chế phẩm, chất bổ sung trong thức ăn chăn nuôi là 10% vì không thuộc nhóm mặt hàng được quy định là áp thuế 5% theo Điều 10 Thông tư 06/2012/TT-BTC.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét